User Tools

Site Tools


utopia_for_reaiists

Utopia for Realists

010.jpg

Lượt xem: 26

Bản dịch dưới đây được dịch sơ bộ bằng công cụ dịch tự động và sẽ được kiểm tra, điều chỉnh lại bởi các thành viên của trang web dichsach.club (bao gồm cả bạn nữa); Vì vậy, nếu bạn nhận thấy bản dịch này có nội dung nào chưa chính xác, đừng ngần ngại ấn vào nút “Edit this page” để hiệu chỉnh nội dung giúp bản dịch ngày càng hoàn thiện hơn. Cảm ơn bạn rất nhiều!

Utopia for ReaIists Xã hội không tưởng cho người thực dụng
Rutger BregmanRutger Bregman
What's it about? Quyển sách nói về điều gì?
Utopia for Realists (2016) is a call to arms for a radical rethinking of life, work and how society functions. It argues that the world enjoys unprecedented wealth and material comfort but is still full of problems, from soul-destroying jobs to inequality and poverty. We have the power to solve these problems and build a better future if we embrace utopian thinking.Utopia for Realists (2016) là lời kêu gọi cùng nhau suy nghĩ lại triệt để về cuộc sống, công việc và cách xã hội vận hành. Tác phẩm trình bày rằng thế giới được hưởng sự giàu có và tiện nghi vật chất chưa từng có nhưng vẫn còn đầy rẫy những vấn đề, từ những công việc hủy hoại tâm hồn đến sự bất bình đẳng cũng như nghèo đói. Chúng ta có đủ sức mạnh để giải quyết những vấn đề này và xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn nếu chúng ta áp dụng tư duy không tưởng.
Who's it for? Ai là người nên đọc tác phẩm?
•Blue-sky thinkers• Những người có suy nghĩ không tưởng.
•Socially engaged people who want to eradicate poverty• Những người hoạt động xã hội muốn xóa đói giảm nghèo
•Frustrated citizens who feel there must be a better way to organize our society and economy• Những công dân thất vọng cảm thấy phải có một cách tốt hơn để tổ chức xã hội và nền kinh tế của chúng ta
About the author Giới thiệu về tác giả:
Rutger Bregman is a Dutch historian, author and internet sensation. His 2017 TED Talk “Poverty isn't a lack of character; It's a lack of cash” has been viewed 2.7 million times, and he was catapulted to internet fame by a clip of him at the 2019 Davos conference criticizing billionaires about taxation. A renowned advocate of Universal Basic Income, Bregman has published four other books in Dutch.Rutger Bregman là một nhà sử học, tác giả người Hà Lan. Bài nói chuyện TED năm 2017 của anh ấy “Nghèo đói không phải là thiếu tính cách; Đó là thiếu tiền mặt” đã được xem 2,7 triệu lần và anh ấy đã trở nên nổi tiếng trên internet nhờ một đoạn clip của anh ấy tại hội nghị Davos 2019 chỉ trích các tỷ phú về thuế. Tác giả là một người ủng hộ nổi tiếng về Thu nhập Cơ bản Chung. Bregman đã xuất bản bốn cuốn sách khác bằng tiếng Hà Lan.
What's in it for me? Think of how we can radically improve society and the economy for everyone. Có gì trong đó cho tôi? Hãy nghĩ về cách chúng ta có thể cải thiện toàn diện xã hội và nền kinh tế cho mọi người.
Today, most of us are lucky enough to live in what, by historical standards, are conditions of great wealth. For most of history, people would have regarded our lifestyles as utopian. So what is our utopia? When we imagine a better life, a better society, what do we see?Ngày nay, hầu hết chúng ta đủ may mắn để sống trong điều kiện theo tiêu chuẩn lịch sử, là giàu có. So với cả chiều dài lịch sử, hầu hết mọi người sẽ coi lối sống hiện nay của chúng ta là không tưởng. Vậy điều không tưởng của chúng ta là gì? Khi chúng ta tưởng tượng về một cuộc sống tốt đẹp hơn, một xã hội tốt đẹp hơn, chúng ta thấy gì?
The problem is that we have stopped imagining altogether. In fact, we aren't even considering some pretty basic questions: Why are we working harder and harder, even though we are richer than ever before? Why are millions still living in poverty, when we have the collective wealth to end poverty completely?Vấn đề là chúng ta đã ngừng tưởng tượng hoàn toàn. Trên thực tế, chúng ta thậm chí còn không xem xét một số câu hỏi khá cơ bản: Tại sao chúng ta ngày càng làm việc chăm chỉ hơn, mặc dù chúng ta đang giàu có hơn bao giờ hết? Tại sao hàng triệu người vẫn sống trong cảnh nghèo đói, trong khi chúng ta có những nguồn của cải thu thập được có thể chấm dứt nghèo đói hoàn toàn?
It's time to re-embrace big thinking. It's time to imagine a new utopia, not as an unworkable pipe dream but as a set of evidence-based, utterly deliverable ideas for how to reshape society and the economy so that all of our lives are radically better.Đã đến lúc phải nắm bắt lại tư duy vĩ mô. Đã đến lúc tưởng tượng về một điều không tưởng mới, không phải là một giấc mơ viễn vông không thể thực hiện được mà là một tập hợp các ý tưởng hoàn toàn có thể thực hiện được dựa trên bằng chứng về cách định hình lại xã hội và nền kinh tế để cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn.
In these summarize s, you'll learn: Trong phần tóm tắt này, bạn sẽ được biết về:
why giving people cash is the best way to help them;Tại sao cho người khác tiền mặt là cách tốt nhất để giúp họ;
why GDP is a fundamentally unhelpful measure of progress; andTại sao GDP về cơ bản là một thước đo không hữu ích cho sự tiến bộ;
what single policy change could make the world twice as rich.Thay đổi chính sách đơn lẻ nào có thể khiến thế giới trở nên giàu có gấp đôi.
#1. Today's world should be a paradise, but it's leaving us strangely dissatisfied. #1. Thế giới ngày nay nên là một thiên đường, nhưng nó khiến chúng ta bất mãn một cách kỳ lạ.
For most of human history, life was, as the famous philosopher Thomas Hobbes wrote, “poor, nasty, brutish, and short.” For centuries, the human experience changed little and was tough.Trong phần lớn lịch sử nhân loại, cuộc sống, như nhà triết học nổi tiếng Thomas Hobbes đã viết, “nghèo nàn, tồi tệ, tàn bạo và ngắn ngủi”. Trong nhiều thế kỷ, trải nghiệm của con người ít thay đổi và khó khăn.
According to estimates by historians, the average Italian earned around $1,600 in the year 1300. Six centuries later, after a passage of time that saw Galileo, Newton, the Enlightenment, the invention of printing, the steam engine and gunpowder, how much was that average Italian earning? Still $1,600.Theo ước tính của các nhà sử học, trung bình người Ý kiếm được khoảng 1.600 đô la vào năm 1300. Sáu thế kỷ sau, sau một khoảng thời gian chứng kiến ​​Galileo, Newton, người Khai sáng, phát minh ra máy in, động cơ hơi nước và thuốc súng, số tiền đó là bao nhiêu. thu nhập trung bình của người Ý? Vẫn là $1,600.
But in recent times, economic progress has occurred at an astounding pace. Today, the average Italian is 15 times as rich as in 1880. The global economy is 250 times the size it was before the Industrial Revolution. Things are now moving so fast that the price of a single watt of solar power has dropped by 99 percent since 1980.Nhưng trong thời gian gần đây, tiến bộ kinh tế đã diễn ra với tốc độ đáng kinh ngạc. Ngày nay, thu nhâp trung bình của người Ý cao gấp 15 lần vào năm 1880. Nền kinh tế toàn cầu có quy mô gấp 250 lần so với trước Cách mạng Công nghiệp. Mọi thứ hiện đang chuyển động nhanh đến mức giá của một watt điện mặt trời đã giảm 99% kể từ năm 1980.
As a result, in just the last century, billions of humans have reached a level of stability and comfort that would have seemed utopian to our counterparts throughout history.Kết quả là, chỉ trong thế kỷ trước, hàng tỷ người đã đạt đến mức độ ổn định và thoải mái mà dường như là điều không tưởng đối với các đối tác của chúng ta trong suốt lịch sử.
After centuries in which hunger was a fundamental part of most humans' lives, today, there are more people suffering from obesity than from starvation. We're also safer-the murder rate in Western Europe, for example, is a full 40 times lower than in the Middle Ages, smallpox has been eradicated, and today, because less disease means fewer early deaths, the average life expectancy on the African continent is growing at a rate of four days every week.Sau nhiều thế kỷ mà nạn đói là một phần cơ bản trong cuộc sống của hầu hết con người, ngày nay, có nhiều người bị béo phì hơn là vì đói. Chúng ta cũng an toàn hơn - chẳng hạn, tỷ lệ giết người ở Tây Âu thấp hơn 40 lần so với thời Trung cổ, bệnh đậu mùa đã được loại trừ và ngày nay, bởi vì ít bệnh hơn có nghĩa là ít tử vong sớm hơn, tuổi thọ trung bình trên cả Lục địa châu Phi đang được kéo dài với tốc độ bốn ngày mỗi tuần.
In addition, our grasp of technology is such that, to a visitor from the Middle Ages, it might seem as if biblical prophecies are coming to life: Consider the Argus Il, a brain implant that restores some sight to people with genetic blindness. Or the Rewalk-robotic legs that are giving paraplegic people the power to walk again!Ngoài ra, khả năng nắm bắt công nghệ của chúng ta tốt đến mức, đối với một du khách từ thời Trung cổ, có vẻ như những lời tiên tri trong Kinh thánh sắp trở thành hiện thực: Hãy xem xét Argus Il, một thiết bị cấy ghép não giúp khôi phục một số thị lực cho những người bị mù di truyền. Hoặc đôi chân rô bốt Rewalk đang mang lại cho những người bại liệt sức mạnh để đi lại!
Secure, healthy and rich by any historical standard, we are living in paradise. So why does that feel so bleak, and why are so many people still dissatisfied with their lot? Maybe it's that with so much wealth, we've forgotten how to dream big. Blinded by our consumer comforts, we're no longer thinking about making life truly better. The moment has come to consider again what progress and living a good life in a time of material wealth really means.An toàn, lành mạnh và giàu có theo bất kỳ tiêu chuẩn lịch sử nào, chúng ta đang sống trong thiên đường. Vậy tại sao điều đó lại cảm thấy ảm đạm đến vậy, và tại sao nhiều người vẫn không hài lòng với cuộc sống hiện tại của họ? Có thể là do với quá nhiều của cải, chúng ta đã quên mất cách ước mơ lớn. Bị che khuất bởi sự thoải mái, chúng ta không còn nghĩ đến việc làm cho cuộc sống thực sự tốt hơn. Đã đến lúc phải xem xét lại tiến trình và sống một cuộc sống tốt đẹp trong thời đại của cải vật chất thực sự có ý nghĩa như thế nào.
#2. Giving free money to people is a remarkably effective way of improving their lives. #2. Tặng tiền miễn phí cho mọi người là một cách cải thiện cuộc sống của họ rất hiệu quả.
Life was tough for Bernard Omondi. Working in a stone quarry in impoverished western Kenya, he was earning $2 a day-barely enough to get by. But life got a lot better when the charity GiveDirectly gave him and others in his village a one-off payment of $500, with no strings attached. Bernard used his windfall to purchase a motorcycle. Months later, he was earning $6 to $9 a day as a motorbike taxi driver. The money had transformed Bernard's life.Cuộc sống thật khó khăn đối với Bernard Omondi. Làm việc trong một mỏ đá ở miền tây Kenya nghèo khó, anh kiếm được 2 đô la một ngày - hầu như không đủ sống. Nhưng cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn rất nhiều khi tổ chức từ thiện GiveDirectly đã trao cho anh ấy và những người khác trong làng của anh ấy khoản thanh toán một lần là 500 đô la, không có ràng buộc gì. Bernard đã sử dụng tiền bạc của mình để mua một chiếc mô tô. Nhiều tháng sau, anh kiếm được từ 6 đến 9 đô la một ngày bằng nghề chạy xe ôm. Số tiền đã thay đổi cuộc đời của Bernard.
GiveDirectly follows a simple principle: Cashpoor people know better than anyone else what they need. Therefore, the best way to help them is to give them money. Cold, unconditional, nostrings-attached cash that they can use as they see fit.GiveDirectly tuân theo một nguyên tắc đơn giản: Người cần tiền biết rõ hơn bất kỳ ai khác những gì họ cần. Do đó, cách tốt nhất để giúp họ là đưa tiền cho họ. Tiền mặt, vô điều kiện, không ràng buộc mà họ có thể sử dụng như họ muốn.
That's an unusual approach because governments and NGOs usually believe they know what impoverished people actually need better than the people themselves do. Such thinking leads to programs in which villages receive cows, schools or solar panels. While, it's better to have one cow than no cow at all, one study in Rwanda found that donating a single pregnant cow and providing a milking workshop cost $3,000! That's the equivalent of five full years of income for the average Rwandan-a transformative amount.Đó là một cách tiếp cận khác thường bởi vì các chính phủ và tổ chức phi chính phủ thường tin rằng họ biết những người nghèo thực sự cần gì tốt hơn chính những người đó. Suy nghĩ như vậy dẫn đến các chương trình trong đó các làng nhận bò, trường học hoặc các tấm pin mặt trời. Trong khi, tốt hơn hết là có một con bò còn hơn là không có con bò nào, một nghiên cứu ở Rwanda cho thấy rằng việc tặng một con bò cái đang mang thai và cung cấp một xưởng vắt sữa có giá 3.000 đô la! Con số đó tương đương với năm năm thu nhập đối với mức thu nhập trung bình của người Rwandan - một số tiền đổi đời.
There's plenty of evidence that giving cash works. When poor Ugandan women were given $ 150, their incomes subsequently rose by almost 100 percent. An MIT study of GiveDirectly's cash grants found that they drive a lasting 38 percent increase in incomes and boost home and livestock ownership by 58 percent. Programs around the world back up this approach.Có rất nhiều bằng chứng cho thấy việc đưa tiền mặt có tác dụng. Khi những phụ nữ nghèo ở Uganda được tặng 150 đô la, thu nhập của họ sau đó đã tăng gần 100%. Một nghiên cứu của MIT về các khoản tài trợ tiền mặt của GiveDirectly cho thấy rằng chúng giúp tăng 38% thu nhập lâu dài và tăng 58% quyền sở hữu nhà và gia súc. Các chương trình trên khắp thế giới ủng hộ cách tiếp cận này.
One reason that organizations are resistant to giving out free money is the entrenched belief that handouts will breed laziness and vice. The evidence, however, doesn't support this.Một lý do mà các tổ chức phản đối việc phát tiền miễn phí là niềm tin cố chấp rằng việc phân phát sẽ tạo ra sự lười biếng và sa đoạ. Tuy nhiên, không có bằng chứng rõ ràng về điều này.
A major World Bank study found that in 82 percent of researched cases across Latin America, Asia and Africa, alcohol and tobacco consumption declined among recipients of cash. One experimental study in Liberia saw alcoholics, known criminals and assorted other addicts given $200, condition-free. Three years on, the men had used their unexpected windfalls to invest in food and medicine and to start small businesses.Một nghiên cứu lớn của Ngân hàng Thế giới cho thấy trong 82% các trường hợp được nghiên cứu trên khắp Châu Mỹ Latinh, Châu Á và Châu Phi, mức tiêu thụ rượu và thuốc lá giảm ở những người nhận tiền mặt. Một nghiên cứu thử nghiệm ở Liberia cho thấy những người nghiện rượu, những tên tội phạm đã biết và nhiều loại nghiện khác được cấp 200 đô la, miễn phí. Ba năm trôi qua, những người đàn ông này đã sử dụng cơ hội may mắn bất ngờ của mình để đầu tư vào thực phẩm, thuốc men và bắt đầu kinh doanh nhỏ.
It turns out that poverty isn't about stupidity, laziness or bad decisions. It's about a lack of money. And as we'll see in the next part, this doesn't only apply in the developing world but also in the Western world. Let's take a look.Hóa ra nghèo không phải là do ngu ngốc, lười biếng hay những quyết định tồi. Đó là vì thiếu tiền. Và như chúng ta sẽ thấy trong phần tiếp theo, điều này không chỉ áp dụng ở thế giới đang phát triển mà còn ở thế giới phương Tây.
#3. The moment for implementing a Universal Basic Income has come. #3. Thời điểm thực hiện Thu nhập Cơ bản Chung đã đến.
Universal Basic Income, or UBI, is a scheme in which everyone receives just enough money to live on. It's tax-funded, given unconditionally, and doesn't require the recipient to work. It's not a new idea-something very much like it was almost introduced in the United States by an unlikely supporter.Thu nhập Cơ bản Chung, hay UBI, là một chương trình trong đó mọi người chỉ nhận đủ tiền để sống. Nó được tài trợ bằng thuế, được trao vô điều kiện và không yêu cầu người nhận phải làm việc. Nó không phải là một ý tưởng mới - một cái gì đó rất giống như nó gần như được giới thiệu ở Hoa Kỳ bởi một người ủng hộ không chắc chắn.
Before his disgrace, President Richard Nixon planned on giving every family $1,600 a year, or $10,000 in today's money. It would be, he argued, the most significant social legislation in US history. In the end, facing political opposition in Congress, Nixon abandoned the idea. It seemed thinkable then, but UBI is certainly possible now.Trước sự thất sủng của mình, Tổng thống Richard Nixon đã lên kế hoạch cho mỗi gia đình 1.600 USD mỗi năm, tương đương 10.000 USD tiền hiện nay. Ông cho rằng nó sẽ là luật xã hội quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Cuối cùng, đối mặt với sự phản đối chính trị trong Quốc hội, Nixon từ bỏ ý định. Lúc đó UBI có thể chỉ là trong suy nghĩ, nhưng hiện nay UBI đã có thể triển khai.
UBI opponents from both the Nixon era and today, make two core arguments against it.Các đối thủ của UBI từ cả thời Nixon và ngày nay, đưa ra hai lập luận cốt lõi chống lại nó.
The first is that it's fundamentally unaffordable. Which nation can fund handouts for everyone? Well, according to a study by British think-tank, Demos, eradicating all poverty in the United States would cost just $175 billion. Sure, that sounds like a lot, but it amounts to less than 1 percent of US GDP. A Harvard Study found that winning the war against poverty would be a whole lot cheaper than the wars in Afghanistan and Iraq, which between them cost $ 4-6 trillion.Đầu tiên là nó về cơ bản là không thể chi trả được. Quốc gia nào có thể tài trợ các khoản phân phát cho mọi người? Chà, theo một nghiên cứu của nhà tư tưởng người Anh, Demos, việc xóa bỏ mọi nghèo đói ở Hoa Kỳ chỉ tốn 175 tỷ đô la. Chắc chắn, điều đó nghe có vẻ nhiều, nhưng nó chỉ chiếm chưa đến 1% GDP của Hoa Kỳ. Một nghiên cứu của Harvard phát hiện ra rằng chiến thắng trong cuộc chiến chống đói nghèo sẽ rẻ hơn rất nhiều so với các cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq, giữa chúng tiêu tốn 4-6 nghìn tỷ USD.
The second argument made against UBI is that it would be dangerous. Give everyone free income, and we will see an explosion in laziness. Why work, when you can get free cash?Lập luận thứ hai chống lại UBI là nó sẽ rất nguy hiểm. Cung cấp cho mọi người thu nhập miễn phí, và chúng ta sẽ thấy sự bùng nổ của sự lười biếng. Tại sao phải làm việc, khi bạn có thể nhận được tiền mặt miễn phí?
When President Nixon was pushing the idea, multiple trials were conducted across the United States to probe this very question. Their findings? Overall, paid work was reduced by just 9 percent-a figure which was later revised down when researchers discovered a methodological anomaly. Moreover, the people who accounted for that 9 percent were mostly mothers of young children who cut back on their working time, and young people who pursued further education. It was also reported that even high school graduation rose by a third among recipients.Khi Tổng thống Nixon thúc đẩy ý tưởng, nhiều cuộc thử nghiệm đã được tiến hành trên khắp nước Mỹ để thăm dò chính câu hỏi này. Họ tìm ra được gì? Nhìn chung, số người không còn muốn làm việc để nhận tiền chỉ giảm 9%, và con số này sau đó còn giảm xuống nữa khi các nhà nghiên cứu phát hiện ra điểm bất thường về phương pháp luận. Hơn nữa, những người chiếm 9% đó chủ yếu là các bà mẹ có con nhỏ, những người cắt giảm thời gian làm việc của họ và những người trẻ theo đuổi việc học lên cao. Nó cũng được báo cáo rằng thậm chí những người tốt nghiệp trung học đã chiếm tới hơn 1/3 trong số những người khảo sát.
It seems that UBI is more likely to help people make good decisions. Just as Bernard in western Kenya used the free money to advance himself, recipients of a UBI in the United States were able to make sensible decisions, like investing in education, rather than decisions determined by economic circumstance and necessity.Có vẻ như UBI có nhiều khả năng giúp mọi người đưa ra quyết định đúng đắn hơn. Giống như Bernard ở miền tây Kenya sử dụng tiền nhận được để thăng tiến bản thân, những người nhận UBI ở Hoa Kỳ có thể đưa ra các quyết định hợp lý, như đầu tư vào giáo dục, thay vì các quyết định do hoàn cảnh kinh tế và sự cần thiết.
With globalization and technology threatening our jobs, the time to introduce UBI has never been more ripe. All we need to do is be brave enough to think differently about how our economy should work.Với toàn cầu hóa và công nghệ đang đe dọa công việc của chúng ta, thời điểm để giới thiệu UBI chưa bao giờ chín muồi hơn thế. Tất cả những gì chúng ta cần làm là đủ can đảm để suy nghĩ khác về cách nền kinh tế của chúng ta hoạt động.
#4. Gross domestic product is a perverse and outdated way of measuring progress; it needs replacing. #4. Tổng sản phẩm quốc nội là một cách đo lường tiến bộ sai lầm và lỗi thời; nó cần thay thế.
To listen to politicians or economic commentators, you'd think that gross domestic product, or GDP, was a wholly reliable measure of a nation's well-being. In reality, though, GDP should no longer be trusted as a yardstick for a nation's progress.Khi lắng nghe các chính trị gia hoặc các nhà bình luận kinh tế, bạn sẽ nghĩ rằng tổng sản phẩm quốc nội, hay GDP, là một thước đo hoàn toàn đáng tin cậy cho sự thịnh vượng của một quốc gia. Tuy nhiên, trên thực tế, GDP không còn được coi là thước đo cho sự tiến bộ của một quốc gia.
What is GDP? Well, it's the sum of goods and services produced in a country, adjusted for things like seasonal variations and inflation. So far, so good. But there are a few fundamental problems with it.GDP là gì? Chà, đó là tổng số hàng hóa và dịch vụ được sản xuất tại một quốc gia, được điều chỉnh cho những thứ như biến đổi theo mùa và lạm phát. Mọi thứ vẫn tốt đẹp. Nhưng GDP có một số vấn đề cơ bản.
Firstly, GDP does a bad job of measuring technological advances. That's partly because products that are free or cheap can have a transformative effect on business or society but nonetheless hurt GDP. Most of us would regard the free calling service Skype, for example, as representing progress. But it cost the telecom giants a fortune, and therefore dented GDP.Thứ nhất, GDP thực hiện một nhiệm vụ không tốt trong việc đo lường các tiến bộ công nghệ. Điều đó một phần là do các sản phẩm miễn phí hoặc giá rẻ có thể có tác động biến đổi đối với doanh nghiệp hoặc xã hội nhưng vẫn làm tổn hại đến GDP. Ví dụ, hầu hết chúng ta đều coi dịch vụ gọi điện miễn phí Skype là đại diện cho sự tiến bộ. Nhưng nó khiến các gã khổng lồ viễn thông phải trả giá bằng cả gia tài, và do đó làm sụt giảm GDP.
Secondly, GDP benefits from human suffering. While the 2011 earthquake and tsunami that left 20,000 dead in Japan damaged GDP that year, the subsequent recovery efforts boosted the economy. Consequently, GDP grew to 1 percent in 2012, rising still in 2013. So, are tsunamis good for the economy? The improving GDP would suggest so.Thứ hai, GDP được hưởng lợi từ sự chịu đựng của con người. Trong khi trận động đất và sóng thần năm 2011 khiến 20.000 người chết ở Nhật Bản đã gây thiệt hại cho GDP năm đó, những nỗ lực phục hồi sau đó đã thúc đẩy nền kinh tế. Do đó, GDP đã tăng lên 1% vào năm 2012, vẫn tăng trong năm 2013. Vậy, liệu sóng thần có tốt cho nền kinh tế? GDP cải thiện sẽ gợi ý như vậy.
Surely then, the time has come for a new and more balanced approach that reflects what truly amounts to progress and welfare in a modern nation.Chắc chắn rồi, đã đến lúc cần có một cách tiếp cận mới và cân bằng hơn, phản ánh những gì thực sự quan trọng đối với sự tiến bộ và phúc lợi trong một quốc gia hiện đại.
Some attempts at this have been made. The King of Bhutan famously made a switch to a gross national happiness measure that incorporated a wider assessment of society's health, like knowledge of traditional songs and dances. It did, however, quietly gloss over any dissatisfaction with his dictatorial rule.Một số nỗ lực về điều này đã được thực hiện. Nhà vua Bhutan nổi tiếng đã chuyển sang một thước đo hạnh phúc quốc gia tổng thể kết hợp đánh giá rộng hơn về sức khỏe của xã hội, như kiến ​​thức về các bài hát và điệu múa truyền thống. Tuy nhiên, nó đã lặng lẽ che đậy bất kỳ sự bất mãn nào với sự cai trị độc tài của ông.
A dashboard that quantified the health of a nation by a number of measures would work better than any single figure would. These measures wouldn't just include growth and financial investment, but track the state of jobs, community service, environmental health and social cohesion.Một bảng đo định lượng sức khỏe của một quốc gia bằng một số thước đo sẽ hoạt động tốt hơn bất kỳ con số đơn lẻ nào. Các biện pháp này không chỉ bao gồm tăng trưởng và đầu tư tài chính, mà theo dõi tình trạng việc làm, dịch vụ cộng đồng, sức khỏe môi trường và sự gắn kết xã hội.
Some might object that such a dashboard could never be objective. However, GDP isn't either-it's a subjective collection of judgments. A dashboard might, ironically, allow us to make a better assessment of what Simon Kuznets, GDP's creator, thought was important: Not just the quantity, but the quality of growth.Một số người có thể phản đối rằng một bảng đo lường như vậy không bao giờ có thể khách quan. Tuy nhiên, GDP cũng không phải là một tập hợp các phán đoán chủ quan. Trớ trêu thay, một bảng đo lường lại có thể cho phép chúng ta đánh giá tốt hơn về điều mà Simon Kuznets, người tạo ra GDP, cho là quan trọng: Không chỉ là số lượng, mà còn là chất lượng của tăng trưởng.
One other factor that our dashboard could measure is leisure-time. Because, as we'll now see, time is also something to be valued.Một yếu tố khác mà bảng điều khiển của chúng ta có thể đo lường là thời gian giải trí. Bởi vì, như bây giờ chúng ta sẽ thấy, thời gian cũng là một thứ đáng được trân trọng.
#5. We should embrace the myriad benefits of a 15hour working week. #5. Chúng ta nên nắm lấy vô số lợi ích của một tuần làm việc 15 giờ.
In summer 1930, while giving a lecture in Madrid, the economist John Maynard Keynes made a striking prediction: by 2030, vast economic growth would mean a 15-hour workweek. Well, Keynes was right about rocketing economic growth, but why was he wrong about us working fewer hours?Vào mùa hè năm 1930, trong khi thuyết trình ở Madrid, nhà kinh tế học John Maynard Keynes đã đưa ra một dự đoán nổi bật: vào năm 2030, tăng trưởng kinh tế lớn đến nổi một tuần chúng ta chỉ cần làm việc 15 giờ. Chà, Keynes đã đúng khi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng tại sao ông ấy lại sai khi nói chúng ta làm việc ít giờ hơn?
Economic growth in the nineteenth and twentieth century did lead to some reductions in working hours. The capitalist-to-his-bones car manufacturer, Henry Ford, discovered that shortening his employees' workweek increased their productivity. He happily told journalists that more leisure was a “cold business fact,” offering effective, rested workers who also had enough leisure time to buy and use his cars. And Ford wasn't alone. By the 1960s, the Rand Corporation think-tank foresaw a future economy in which just 2 percent of people needed to work to meet all of society's needs.Tăng trưởng kinh tế trong thế kỷ 19 và 20 đã dẫn đến việc cắt giảm một số giờ làm việc. Henry Ford, nhà sản xuất ô tô lâu đời của nhà tư bản đã phát hiện ra rằng việc rút ngắn tuần làm việc của nhân viên đã làm tăng năng suất của họ. Ông vui vẻ nói với các nhà báo rằng thư giãn tốt hơn là việc “chỉ làm việc”, mang lại cho những người lao động hiệu quả, được nghỉ ngơi cũng có đủ thời gian nhàn rỗi để mua và sử dụng ô tô của mình. Và Ford không đơn độc. Đến những năm 1960, tổ chức tư vấn Rand Corporation đã dự đoán về một nền kinh tế tương lai, trong đó chỉ cần 2% người làm việc để đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội.
But by the 1980s, reductions in working hours stopped. Growth didn't equate to more leisure but to more consumption. In countries like the United Kingdom, Austria and Spain, the workweek stayed the same, whereas in the United States it grew despite the fact that economic growth could enable Keynes' vision. The MIT ecologist Erik Rauch has shown that, by 2050, we could work 15 hours or less while earning the same as we did in 2000, which was hardly a period of hardship.Nhưng đến những năm 1980, việc cắt giảm giờ làm việc đã dừng lại. Tăng trưởng không tương đương với giải trí nhiều hơn mà là tiêu thụ nhiều hơn. Ở các quốc gia như Vương quốc Anh, Áo và Tây Ban Nha, tuần làm việc vẫn giữ nguyên, trong khi ở Hoa Kỳ, tuần làm việc tăng lên bất chấp thực tế là tăng trưởng kinh tế có thể cho phép tầm nhìn của Keynes. Nhà sinh thái học Erik Rauch của MIT đã chỉ ra rằng vào năm 2050, chúng ta có thể làm việc 15 giờ hoặc ít hơn mà vẫn kiếm được như năm 2000, đây không phải là một giai đoạn khó khăn.
The time has come to think again about putting in fewer hours at work. Doing so offers a wide variety of benefits. For a start, people want to work less. When researchers in the United States asked people whether they would rather have an extra two weeks' salary or an extra two weeks off, twice as many chose the free time. And working less has myriad benefits, from reducing accidents in the workplace, to cutting stress levels, to emancipating women. Countries with the shortest workweeks top gender equality rankings. Why? Well, when men work less, they pick up more of the unpaid work at home that has traditionally been left to women.Đã đến lúc suy nghĩ lại về việc dành ít giờ làm việc hơn. Làm như vậy mang lại nhiều lợi ích. Đầu tiên, mọi người muốn làm việc ít hơn. Khi các nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ hỏi mọi người rằng họ muốn có thêm hai tuần lương hay nghỉ thêm hai tuần, thì số người đã chọn thời gian rảnh gấp đôi số người chọn tiền. Và làm việc ít hơn có vô số lợi ích, từ giảm thiểu tai nạn ở nơi làm việc, giảm mức độ căng thẳng, giải phóng phụ nữ. Các quốc gia có tuần làm việc ngắn nhất đứng đầu bảng xếp hạng bình đẳng giới. Tại sao? Khi đàn ông làm việc ít hơn, họ sẽ làm nhiều việc nội trợ hơn ở nhà mà theo truyền thống là phụ nữ.
A short working week would give us all the bandwidth we need to live a better life. Whether that means spending more time with the kids, learning to play the piano, studying a language or getting fit. Shortening our week needs to become a political priority. But as we'll see, our society doesn't always get its priorities right.Một tuần làm việc ngắn ngủi sẽ cung cấp cho chúng tôi tất cả điều kiện cần thiết để có một cuộc sống tốt hơn. Cho dù điều đó có nghĩa là dành nhiều thời gian hơn cho lũ trẻ, học chơi piano, học ngoại ngữ hay rèn luyện sức khỏe. Việc rút ngắn tuần làm việc của chúng ta cần trở thành một ưu tiên chính trị. Nhưng như chúng ta sẽ thấy, xã hội của chúng ta không phải lúc nào cũng đạt được các ưu tiên của mình.
“Work is the refuge of people who have nothing better to do. ”-Oscar Wilde “Công việc là nơi nương tựa của những người không có gì tốt hơn để làm.” -Oscar Wilde
#6. How we prioritise which jobs are prestigious or well-paid is all wrong. #6. Việc chúng ta ưu tiên những công việc nào có uy tín hay được trả lương cao đều sai.
In February 1968, 7,000 angry sanitation workers gathered in New York in response to failed pay negotiations. As one garbageman said, they were fed up of people treating them like dirt. They were going on strike.Vào tháng 2 năm 1968, 7.000 công nhân vệ sinh giận dữ đã tụ tập ở New York để phản ứng với các cuộc đàm phán trả lương thất bại. Như một người dọn rác nói, họ đã chán ngấy những người coi họ như chất bẩn. Họ đang đình công.
In Ireland, in May 1970, the country's bank employees went on strike following lengthy but unsuccessful wage negotiations.Tại Ireland, vào tháng 5 năm 1970, các nhân viên ngân hàng của nước này đã đình công sau các cuộc đàm phán lương kéo dài nhưng không thành công.
Two strikes by two very different occupations. What happened? Well, two days after New York's sanitation workforce went on strike, the city was knee-deep in stinking refuse. For the first time since a 1931 polio outbreak, the city declared a state of emergency. It turns out you really need garbagemen; what about bankers?Hai cuộc đình công bởi hai nghề nghiệp rất khác nhau. Chuyện gì đã xảy ra? Vâng, hai ngày sau khi lực lượng vệ sinh của New York đình công, thành phố ngập sâu trong rác thải hôi thối. Lần đầu tiên kể từ khi bùng phát bệnh bại liệt năm 1931, thành phố đã ban bố tình trạng khẩn cấp. Hóa ra bạn thực sự cần những người dọn rác; Còn những nhân viên ngân hàng thì sao?
Over in Ireland, the banks closed overnight. Pundits predicted economic doom. But then something odd happened: not much at all. Pubs and shops, well-integrated into their communities, filled the void and cashed checks. After all, pub and shop managers had a keen sense for their customers' trustworthiness. A workable financial system emerged, and by November 1970, 5 billion in homemade currency had been printed and used. It turned out that some form of financial system was needed, but bankers themselves? Not so much.Ở Ireland, các ngân hàng đóng cửa qua đêm. Các chuyên gia dự đoán kinh tế diệt vong. Nhưng rồi một điều kỳ lạ đã xảy ra: không nhiều chút nào. Các quán rượu và cửa hàng, được tích hợp tốt vào cộng đồng của họ, lấp đầy khoảng trống và chi phiếu tiền mặt. Rốt cuộc, những người quản lý quán rượu và cửa hàng đều có ý thức sâu sắc về mức độ tin cậy của khách hàng. Một hệ thống tài chính khả thi đã xuất hiện và vào tháng 11 năm 1970,5 tỷ đồng tiền tự chế đã được in và sử dụng. Hóa ra là cần một số hình thức hệ thống tài chính, nhưng chính các chủ ngân hàng? Không nhiều lắm.
Certain jobs bring wealth and prestige, like being a banker, a hot-shot lawyer or a social media strategist. Others, like being a garbageman or an ordinary school teacher, are badly paid and bring either no prestige or outright disdain. But the reality is, many supposedly hot-shot jobs create little wealth.Một số công việc nhất định mang lại sự giàu có và uy tín, chẳng hạn như nhân viên ngân hàng, luật sư hay một nhà chiến lược truyền thông xã hội. Những người khác, như một người dọn rác hoặc một giáo viên bình thường, bị trả lương thấp và không có uy tín hoặc bị coi thường hoàn toàn. Nhưng thực tế là, nhiều công việc được cho là “hot” lại tạo ra rất ít của cải.
Take lawyers. Sure, the rule of law is important. But the United States has 17 times as many lawyers per person as Japan. Is America's legal system 17 times better? No. Imagine that the 100,000 lobbyists operating in Washington, or the world's telemarketers went on strike. If anything, we'd all be better off.Về nghề luật sư. Chắc chắn, pháp quyền là quan trọng. Nhưng Hoa Kỳ có số luật sư trên một người gấp 17 lần Nhật Bản. Hệ thống luật pháp của Mỹ tốt hơn gấp 17 lần? Không. Hãy tưởng tượng rằng 100.000 nhà vận động hành lang đang hoạt động ở Washington hoặc các nhà tiếp thị qua điện thoại trên thế giới đã đình công. Nếu có điều nào xảy ra, tất cả chúng ta sẽ có nhiều tiền hơn.
Society would benefit from refocusing on what actually creates wealth and value. Taxation is a good place to start. One Harvard study showed that tax cuts under President Reagan prompted a major switch in careers among the nation's academic elite. In 1970, twice as many Harvard graduates were choosing research than banking. Twenty years later, following Reagan's income tax cuts, the numbers had flipped. The conclusion was clear: income tax steers people away from high-paid but not socially beneficial occupations like banking toward roles with a more positive impact on society.Xã hội sẽ được hưởng lợi nếu không tập trung vào những gì thực sự tạo ra của cải và giá trị. Thuế là một nơi tốt để bắt đầu. Một nghiên cứu của Harvard đã chỉ ra rằng việc cắt giảm thuế dưới thời Tổng thống Reagan đã thúc đẩy một sự chuyển đổi lớn trong nghề nghiệp giữa giới tinh hoa học thuật của quốc gia. Năm 1970, số sinh viên tốt nghiệp Harvard chọn ngành nghiên cứu nhiều hơn gấp đôi so với ngành ngân hàng. Hai mươi năm sau, sau khi Reagan cắt giảm thuế thu nhập, các con số đã thay đổi. Kết luận rất rõ ràng: thuế thu nhập khiến mọi người tránh xa những nghề được trả lương cao nhưng không mang lại lợi ích xã hội như ngân hàng để hướng tới những vai trò có tác động tích cực hơn đến xã hội.
If we want engineers rather than hedge-fund managers, teachers instead of bankers, then higher taxes would be a good place to start.Nếu chúng ta muốn các kỹ sư thay vì các nhà quản lý quỹ đầu cơ, giáo viên thay vì các chủ ngân hàng, thì thuế cao hơn sẽ là một nơi tốt để bắt đầu.
#7. Our economy is fundamentally changing, and technology poses a greater threat to jobs than ever before. #7. Nền kinh tế của chúng ta đang thay đổi về cơ bản và công nghệ gây ra mối đe dọa đối với việc làm lớn hơn bao giờ hết.
In the early nineteenth century, English factory owner William Cartwright introduced a new type of loom. Each machine replaced the jobs of four skilled weavers. In the following months, unemployed workers formed a radical faction intent on destroying machinery. Machines, said one rebel named William Leadbetter, “will be the destruction of the universe. ” The group called themselves the Luddites.Vào đầu thế kỷ 19, chủ nhà máy người Anh William Cartwright đã giới thiệu một loại khung cửi mới. Mỗi chiếc máy thay thế công việc của bốn thợ dệt lành nghề. Trong những tháng tiếp theo, những công nhân thất nghiệp hình thành một phe cực đoan có ý định phá hủy máy móc. Máy móc, một công nhân tên là William Leadbetter cho biết, “sẽ là sự hủy diệt của vũ trụ.” Nhóm này tự gọi mình là Luddites.
Throughout history, people have warned of the impact of machines on jobs. But today, most people would say that the Luddites and other fear-mongers got it wrong. After all, we aren't all unemployed. Nonetheless, there are reasons to be more worried than ever before about the impact of technology on jobs.Trong suốt lịch sử, con người đã cảnh báo về tác động của máy móc đối với công việc. Nhưng ngày nay, hầu hết mọi người sẽ nói rằng Luddites và những kẻ sợ hãi khác đã nhầm. Rốt cuộc, tất cả chúng ta không thất nghiệp. Tuy nhiên, có những lý do để lo lắng hơn bao giờ hết về tác động của công nghệ đối với việc làm.
Throughout the twentieth century, job growth and economic productivity ran side by side. As we got more productive, we also created more jobs. But around the start of the twenty-first century, a change occurred. Two MIT economists, Erik Brynjolfsson and Andrew McAfee, call it the great decoupling. Productivity kept on rising, driven by innovation. But at the same time, job creation slowed, and median incomes fell. Why?Trong suốt thế kỷ 20, tăng trưởng việc làm và năng suất kinh tế song hành với nhau. Khi chúng tôi làm việc hiệu quả hơn, chúng tôi cũng tạo ra nhiều việc làm hơn. Nhưng vào khoảng đầu thế kỷ XXI, một sự thay đổi đã xảy ra. Hai nhà kinh tế của MIT, Erik Brynjolfsson và Andrew McAfee, gọi đó là sự phân tách tuyệt vời. Năng suất không ngừng tăng lên nhờ sự đổi mới. Nhưng đồng thời, việc tạo việc làm chậm lại và thu nhập trung bình giảm. Tại sao?
One reason is the sheer pace of technological change. Consider Moore's law, which states that the number of transistors on each computer chip doubles year on year, and so does computing power as a consequence. When Gordon Moore, an IBM co-founder, discovered this growth pattern in the 1960s, there were just 30 transistors to a chip.Một lý do là tốc độ thay đổi công nghệ tuyệt đối. Hãy xem xét định luật Moore, trong đó nói rằng số lượng bóng bán dẫn trên mỗi chip máy tính tăng gấp đôi hàng năm và sức mạnh tính toán cũng như vậy. Khi Gordon Moore, người đồng sáng lập IBM, phát hiện ra mô hình tăng trưởng này vào những năm 1960, chỉ có 30 bóng bán dẫn trong một con chip.
Well, when the Xbox One was launched in 2013, it had five billion transistors. Moore's law isn't showing any signs of slowing down, and some commentators expect staggering advances in computer technology in the near future.Vâng, khi Xbox One ra mắt vào năm 2013, nó có 5 tỷ bóng bán dẫn. Định luật Moore không có dấu hiệu chậm lại, và một số nhà bình luận mong đợi những tiến bộ đáng kinh ngạc trong công nghệ máy tính trong tương lai gần.
A second reason why our economy is fundamentally changing is that technological growth and globalization means that tiny groups of people can now build vastly successful businesses. In the late 1980s, Kodak employed 145,000 people. It filed for bankruptcy in 2012, the same year that Instagram was sold to Facebook for $1 billion. Instagram's workforce? Thirteen people.Lý do thứ hai khiến nền kinh tế của chúng ta đang thay đổi cơ bản là sự tăng trưởng công nghệ và toàn cầu hóa có nghĩa là những nhóm người nhỏ bé giờ đây có thể xây dựng các doanh nghiệp thành công rực rỡ. Vào cuối những năm 1980, Kodak đã tuyển dụng 145.000 người. Và Kodak đã nộp đơn phá sản vào năm 2012, cùng năm Instagram được bán cho Facebook với giá 1 tỷ USD. Lực lượng lao động của Instagram? Mười ba người.
In the nineteenth century, innovation in steampowered technology replaced human musclepower-in mills, mines and other industrial sites. Today, innovation in computing power is ready to replace our brainpower at a much faster rate. As a result, most jobs are now at risk.Vào thế kỷ 19, sự đổi mới trong công nghệ hấp thụ năng lượng đã thay thế các nhà máy, hầm mỏ và các địa điểm công nghiệp khác. Ngày nay, sự đổi mới trong khả năng tính toán đã sẵn sàng thay thế trí não của chúng ta với tốc độ nhanh hơn nhiều. Kết quả là hầu hết các công việc hiện nay đều gặp rủi ro.
Let's take a look at the consequences, and how we might tackle them.Hãy cùng xem xét các hậu quả và cách chúng ta có thể giải quyết chúng.
#8. We can either use tax to redistribute the wealth of the coming machine age or descend into evergreater inequality. #8. Chúng ta có thể sử dụng thuế để phân phối lại của cải trong thời đại máy móc sắp tới hoặc rơi vào tình trạng bất bình đẳng ngày càng lớn hơn.
It seems possible that the Luddites' anti-technology fears weren't wrong, though perhaps just a little premature; maybe we really are doomed to be beaten in our race against the machine. After all, we may be about to reach a tipping point in which developments in computing power and artificial intelligence radically change everything.Có vẻ như nỗi sợ hãi chống lại công nghệ của Luddites không sai, mặc dù có lẽ chỉ hơi sớm; có lẽ chúng ta thực sự sẽ bị đánh bại trong cuộc đua với máy móc. Rốt cuộc, chúng ta có thể sắp đạt đến một thời điểm mà sự phát triển về sức mạnh tính toán và trí tuệ nhân tạo thay đổi hoàn toàn mọi thứ.
Futurologist Ray Kurzweil ardently believes that computers will be as smart as people by 2029 and that by 2045 they may be a billion times more intelligent than all human brains together. Now, Kurzweil is known for his wildness as much as his genius. But we should be wary of dismissing his predictions, just as we would have been wrong to dismiss Gordon Moore's analysis of computing progression back in the 1960s.Nhà tương lai học Ray Kurzweil tin tưởng rằng máy tính sẽ thông minh như con người vào năm 2029 và vào năm 2045, chúng có thể thông minh hơn một tỷ lần so với tất cả các bộ não của con người. Giờ đây, Kurzweil được biết đến với sự hoang dã chẳng kém gì thiên tài của mình. Nhưng chúng ta nên cảnh giác với việc bác bỏ các dự đoán của ông ấy, cũng như chúng ta đã sai khi bác bỏ phân tích của Gordon Moore về sự tiến triển của máy tính vào những năm 1960.
And if Kurzweil's right, we'll see major economic change. What will the consequences be? One is rapidly growing inequality. A small group of ultra-rich will enjoy fabulous lifestyles, while anyone who hasn't learned a skill that machines cannot master will be left to the side. Our society is becoming more divided.Và nếu Kurzweil nói đúng, chúng ta sẽ thấy sự thay đổi lớn về kinh tế. Hậu quả sẽ như thế nào? Một là bất bình đẳng gia tăng nhanh chóng. Một nhóm nhỏ những người siêu giàu sẽ tận hưởng lối sống tuyệt vời, trong khi bất kỳ ai không học được một kỹ năng mà máy móc không thể thành thạo sẽ bị bỏ mặc. Xã hội của chúng ta đang trở nên chia rẽ hơn.
Assuming we don't want to live in a world with rampant inequality, what can be done? Traditionally the answer to the threat of machines has been to call for education. This has worked in the past, but then it was pretty simple to help, for example, farmers build their earning capacity by learning some basic skills. Helping our children prepare to compete with machines and artificial intelligence might be a little trickier.Giả sử chúng ta không muốn sống trong một thế giới với sự bất bình đẳng tràn lan, thì có thể làm gì? Theo truyền thống, câu trả lời cho mối đe dọa của máy móc là kêu gọi giáo dục. Điều này đã có hiệu quả trong quá khứ, nhưng sau đó khá đơn giản để giúp đỡ, chẳng hạn như nông dân xây dựng khả năng kiếm tiền bằng cách học một số kỹ năng cơ bản. Giúp con cái chúng ta chuẩn bị để cạnh tranh với máy móc và trí tuệ nhân tạo có thể khó hơn một chút.
The answer lies in rejecting a central tenet of modern life: the idea that we must all work for a living. Ultimately, the answer is massive redistribution. In a world characterized by Instagrams, not Kodaks, if we want everyone in society to benefit from technology-driven prosperity, we need to consider radical redistribution. That means taxation of the vast wealth accrued by an ever-smaller group of people.Câu trả lời nằm ở chỗ bác bỏ nguyên lý trung tâm của cuộc sống hiện đại: ý tưởng rằng tất cả chúng ta phải làm việc để kiếm sống. Cuối cùng, câu trả lời là sự tái phân phối vĩ mô. Trong một thế giới được đặc trưng bởi Instagrams chứ không phải Kodaks, nếu chúng ta muốn mọi người trong xã hội được hưởng lợi từ sự thịnh vượng do công nghệ thúc đẩy, chúng ta cần xem xét việc phân phối lại triệt để. Điều đó có nghĩa là đánh thuế đối với khối tài sản khổng lồ được tích lũy bởi một nhóm người ngày càng nhỏ hơn.
The French economist Thomas Piketty caused an uproar when he proposed a global, progressive tax on wealth as the solution to growing inequality between the haves and have nots. Piketty himself describes his idea as utopian, but a “useful utopia. ” But the choice is there for us to take. Accept increasing inequality or turn this utopia into a reality.Nhà kinh tế học người Pháp Thomas Piketty đã gây ra một sự náo động khi ông đề xuất một loại thuế lũy tiến toàn cầu đối với của cải như một giải pháp cho sự bất bình đẳng ngày càng tăng giữa những người có và không có. Bản thân Piketty mô tả ý tưởng của mình là không tưởng, nhưng là một “điều không tưởng hữu ích.” Nhưng chúng ta có thể lựa chọn. Chấp nhận sự bất bình đẳng ngày càng tăng hoặc biến điều không tưởng này thành hiện thực.
“The difficulty lies, not in the new ideas, but in escaping from the old ones. ”-John Maynard Keynes “Khó khăn không nằm ở những ý tưởng mới, mà nằm ở việc thoát khỏi những ý tưởng cũ.” -John Maynard Keynes
#9. If we really want to use our wealth to build a utopia, we need to open up the world's borders. #9. Nếu chúng ta thực sự muốn sử dụng sự giàu có của mình để xây dựng một điều không tưởng, chúng ta cần mở ra biên giới của thế giới.
Imagine there was a single measure that wouldn't just ameliorate poverty but eradicate it? And imagine that measure would make all of us richer, as well? Surely we'd take it, right?Hãy tưởng tượng có một biện pháp duy nhất không chỉ cải thiện tình trạng nghèo đói mà còn xóa bỏ nó? Và hãy tưởng tượng rằng biện pháp đó cũng sẽ làm cho tất cả chúng ta trở nên giàu có hơn? Chắc chắn chúng ta sẽ chọn nó, phải không?
Well, unfortunately, we probably wouldn't. Not right now. Because that measure is to open all borders.Chà, thật không may, chúng ta có thể sẽ không chọn. Không phải bây giờ. Vì biện pháp đó là mở cửa mọi biên giới.
Economists' views on this are consistent. According to a Center for Global Development paper, four major studies predicted global economic growth of between 67 and 147 percent if borders were opened.Quan điểm của các nhà kinh tế học về điều này là nhất quán. Theo một bài báo của Trung tâm Phát triển Toàn cầu, bốn nghiên cứu lớn đã dự đoán tăng trưởng kinh tế toàn cầu từ 67 đến 147% nếu biên giới được mở ra.
It's common to hear economists urging the removal of trade and capital barriers to promote growth; the IMF estimates that lifting restrictions on capital movement would free up $65 billion-a tidy sum. But Harvard economist Lant Pritchett has estimated that opening borders to people would have one thousand times the impact: generating $65 trillion across the world.Người ta thường nghe các nhà kinh tế hối thúc việc dỡ bỏ các rào cản thương mại và vốn để thúc đẩy tăng trưởng; IMF ước tính rằng việc dỡ bỏ các hạn chế đối với sự luân chuyển vốn sẽ giải phóng 65 tỷ đô la, một khoản tiền nhỏ. Nhưng nhà kinh tế học Harvard Lant Pritchett đã ước tính rằng việc mở cửa biên giới cho mọi người sẽ có tác động gấp một nghìn lần: tạo ra 65 nghìn tỷ đô la trên khắp thế giới.
Our current focus on aid and trade seems a little silly when open borders could boost the income of, for example, the average Nigerian person by $ 22,000 annually, according to John Kennan from the National Bureau of Economic Research.Theo John Kennan từ Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia, sự tập trung hiện tại của chúng ta vào viện trợ và thương mại có vẻ hơi ngớ ngẩn trong khi các biên giới mở có thể làm tăng thu nhập của một người Nigeria trung bình thêm 22.000 USD mỗi năm.
So why don't we open up? Well, national borders seem to distort our thinking. We are morally indignant to learn that white Americans earn more than black Americans, but we don't bat an eyelid at the knowledge that an American will, for the same work, earn three times more than a Bolivian of the same age and abilities, and eight and a half times more than the equivalent Nigerian.Vậy tại sao chúng ta không mở ra? Chà, biên giới quốc gia dường như bóp méo suy nghĩ của chúng ta. Chúng tôi phẫn nộ về mặt đạo đức khi biết rằng người Mỹ da trắng kiếm được nhiều hơn người Mỹ da đen, nhưng chúng tôi không ngạc nhiên khi biết rằng một người Mỹ sẽ, với cùng một công việc, kiếm được gấp ba lần so với một người Bolivia ở cùng độ tuổi và khả năng, và gấp tám lần rưỡi so với người Nigeria tương đương.
Today, the real elite aren't those born into the right family or the right social class. They are those born in the right country. Today, a person on the poverty line in the United States is in the richest 14 percent of the global population. And someone earning a median wage in the United States is in the richest 4 percent. That's after adjusting for the cost of living. Today, the global elite is barely aware of its luck.
Ngày nay, tầng lớp thượng lưu thực sự không phải là những người sinh ra trong một gia đình phù hợp hay một tầng lớp xã hội phù hợp. Họ là những người sinh ra ở đúng quốc gia. Ngày nay, một người ở mức nghèo khổ ở Hoa Kỳ nằm trong nhóm 14% dân số toàn cầu giàu nhất. Và những người có mức lương trung bình ở Hoa Kỳ nằm trong nhóm 4% người giàu nhất. Đó là sau khi điều chỉnh chi phí sinh hoạt. Ngày nay, giới thượng lưu toàn cầu hầu như không nhận thức được sự may mắn của họ.
But the status quo doesn't have to be accepted. The strength of today's national borders is a historical anomaly. Before World War One, borders existed mostly as lines on maps. Countries that issued passports, like Russia, were regarded as uncivilized for doing so.Nhưng hiện trạng không nhất thiết phải được chấp nhận. Sức mạnh của biên giới quốc gia ngày nay là một dị thường lịch sử. Trước Thế chiến thứ nhất, biên giới chủ yếu tồn tại dưới dạng các đường trên bản đồ. Các quốc gia cấp hộ chiếu, như Nga, bị coi là không văn minh khi làm như vậy.
So maybe we can imagine something different and better. One thing is certain. If you want to make the world a better place, you need to make it a more open place.Vì vậy, có lẽ chúng ta có thể tưởng tượng một điều gì đó khác và tốt hơn. Có một điều chắc chắn. Nếu bạn muốn làm cho thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn, bạn cần phải biến nó thành một nơi cởi mở hơn.
Final summary The key message in these sumaries: We have the wealth and the ability to improve our world radically. Moving toward a universal basic income, a far shorter workweek, better indicators of societal progress and opening borders would have a transformative, positive impact on our lives. We just lack the imagination to believe in this achievable utopia. Tóm tắt cuối cùng Thông điệp chính trong những tóm tắt này: Chúng ta có của cải và khả năng cải thiện toàn diện thế giới của chúng ta. Tiến tới mức thu nhập cơ bản toàn dân, một tuần làm việc ngắn hơn nhiều, các chỉ số tốt hơn về tiến bộ xã hội và mở cửa biên giới sẽ có tác động biến đổi, tích cực đến cuộc sống của chúng ta. Chúng ta chỉ thiếu trí tưởng tượng để tin vào điều không tưởng hoàn toàn có thể đạt được này.
utopia_for_reaiists.txt · Last modified: 2021/03/19 21:38 by bacuro