User Tools

Site Tools


kicking_away_the_ladder

Kicking Away the Ladder: Development Strategy in Historical Perspective Tiếng Việt

Lượt xem: 28

Bản tóm tắt cuốn sách Kicking Away the Ladder: Development Strategy in Historical Perspective (Kicking Away the Ladder: Chiến lược phát triển trong viễn cảnh lịch sử) dưới đây được dịch sơ bộ bằng công cụ dịch tự động và sẽ được kiểm tra, điều chỉnh lại bởi các thành viên của trang web dichsach.club (bao gồm cả bạn nữa);
Vì vậy, nếu bạn nhận thấy bản dịch này có nội dung nào chưa chính xác, đừng ngần ngại ấn vào nút “Edit this page” để hiệu chỉnh nội dung giúp bản dịch ngày càng hoàn thiện hơn. Cảm ơn bạn rất nhiều!

Bản dịchBản tiếng Anh
Kicking Away the Ladder: Chiến lược phát triển trong viễn cảnh lịch sửKicking Away the Ladder: Development Strategy in Historical Perspective
Ha-Joon ChangHa-Joon Chang
Kicking Away The Ladder là cái nhìn lịch sử về cách các cường quốc phương Tây đã phát triển về kinh tế và chính trị. Cuốn sách cũng cho thấy các nguyên tắc và chiến thuật đã làm cho các nước phương Tây trở nên giàu có và quyền lực lại đi ngược lại với những nguyên tắc mà họ đề xuất các nước đang phát triển hành động theo.Kicking Away The Ladder takes a historical look at how the Western powers have grown economically and politically. It shows that the principles and tactics that have made them rich and powerful are counter to those they propose developing countries should live by.
Ngày nay, bất cứ khi nào chúng ta mở một tờ báo hay xem tin tức, chúng ta đều thấy các chính trị gia phương Tây đang cố gắng đưa ra những lời khuyên cho các nước đang phát triển về những gì họ cần làm để trở nên hòa bình và thịnh vượng. Phần lớn các nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều áp lực quốc tế để thay đổi, dân chủ hóa chính phủ, thiết lập thị trường tự do và cải thiện quyền lợi của người lao động.Nowadays, whenever we open a newspaper or watch the news, we see Western politicians who are trying to teach developing countries what they need to do in order to become peaceful and rich. The great majority of developing countries face a lot of international pressure to change their systems, to democratize their governments, to establish free-market, and improve workers’ rights.
Xuyên suốt bản tóm tắt cuốn sách Kicking Away the Ladder, chúng ta sẽ thảo luận về cách các nhà lãnh đạo phương Tây thực thi các chính sách phát triển kinh tế nhưng lại rao giảng một thông điệp khác. Không có gì đáng ngạc nhiên, để bảo vệ nền kinh tế còn yếu kém của mình, các quốc gia phương Tây từ lâu đã dựa vào việc bóc lột sức lao động. Khác xa với các nền tảng của tự do và tự do thương mại, người phương Tây đã và đang làm những điều “không lành mạnh” để bảo vệ nền kinh tế của họ trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Mặc dù là những mục tiêu phổ biến, thế nhưng quyền chính trị và việc làm công bằng là những tiêu chuẩn khó đạt được và có thể gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế của các quốc gia đang phát triển.Throughout this summary of Kicking Away the Ladder we’ll discuss how Western leaders practice one message of economic development, but preach another. Unsurprisingly, in order to protect their own fragile economies, Western nations have long been exploiting their labor force. Far from the bastions of liberty and free-trade, Westerners have been doing the “wrong” things in order to protect their economies for foreign competitors. Although they are ubiquitous goals, political rights and fair employment are hard-to-achieve standards that can end up having a negative impact on the economies of developing nations.
Cuốn sách này khám phá cách các tiêu chuẩn chính trị và kinh tế có thể phải trả bằng cái giá của quyền lực và sự giàu có. Cũng như các quốc gia khác nhau đã cố gắng thu hẹp khoảng cách giữa thịnh vượng và công bằng như thế nào. Từ bản tóm tắt của chúng tôi về Kicking Away the Ladder của Ha-Joon Chang, bạn sẽ tìm hiểu về các vấn đề sau:This book explores how political and economic standards can come at the cost of power and wealth, and how did different nations try to close the gap between prosperity and fairness. From our summary of Ha-Joon Chang’s Kicking Away the Ladder you will learn about the following issues:
+ Lao động trẻ em đã trở thành một vấn đề phổ biến ở Anh và ở Mỹ hơn so với chúng ta thường nghĩ;How child labor has been an issue in Britain and in America much later than we think;
+ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không phải là một quốc gia ủng hộ thương mại tự do trong một thời gian rất dài;How the United States of America was not a nation that advocated free-trade for a very long time; and
+ Từ lúc nào các quốc gia dân chủ ngày nay mới cho phụ nữ quyền bầu cử?When did the democratic nations of today give women the right to vote?

#1: Bằng cách bảo vệ các ngành công nghiệp của mình, Hoa Kỳ đã đạt được một nền kinh tế thống trị.

# 1: Bằng cách bảo vệ các ngành công nghiệp của mình, Hoa Kỳ đã đạt được vị trí kinh tế thống trị.Kicking Away the Ladder Chapter #1: By protecting its industries, the United States achieved a dominant economy.
Bạn có biết lá cờ Hoa Kỳ tượng trưng cho điều gì không?Do you know what the United States flag represents?
Một số người cho rằng nó đại diện cho dân chủ và tự do, trong khi những người khác cho rằng nó liên quan đến thị trường tự do và thương mại tự do. Hoa Kỳ được biết đến với việc đưa ra một hình ảnh về các hoạt động kinh tế tự do, không bị ảnh hưởng bởi thuế quan cao hoặc chính phủ kiểm soát. Tuy nhiên, bất chấp phương châm tự do thương mại nổi tiếng của Mỹ, lịch sử ban đầu của quốc gia này cho thấy, trên thực tế, điều khiến đất nước trở nên hùng mạnh và thịnh vượng là một loạt các quy định nghiêm ngặt của chính phủ.Some people think it represents democracy and liberty, while others think it’s about the free market and free trade. The United States is known for projecting an image of free economic practices, unaffected by high tariffs or controlling government. Yet, despite America’s famous motto of free trade, the nation’s early history shows that, in fact, what led the country to power and prosperity were a series of strict governmental regulations.
Sau một cuộc đấu tranh lâu dài để trở thành một quốc gia độc lập và lật đổ sự thống trị của Anh, Mỹ cuối cùng đã trở thành một quốc gia độc lập. Như bất kỳ quốc gia mới nào, Mỹ phải đối mặt với hàng loạt vấn đề, trong đó có thực tế là ngành công nghiệp của họ cực kỳ yếu kém và kém phát triển so với châu Âu. Do đó, nước Mỹ mới độc lập đã chọn một con đường khác, con đường chủ nghĩa bảo hộ. Điều này có nghĩa là thuế hải quan 5% sẽ được áp dụng cho mọi sản phẩm nước ngoài nhập cảnh vào nước này. Bằng cách thực hiện chính sách này và giữ giá các sản phẩm nội địa của mình ở mức giá thấp hơn, nền kinh tế Mỹ đã bắt đầu phát triển. Khi ngành công nghiệp nội địa của Mỹ tiếp tục phát triển, chiến lược bảo hộ tiếp tục được triển khai; trên thực tế, lệ phí hải quan thậm chí còn cao hơn.After a long struggle to become an independent nation and to topple the British rule, America finally became an independent nation. As any new country would, America faced a wide range of problems, including the fact that their industry was extremely weak and underdeveloped compared to Europe’s. Hence, the newly independent America chose a different path, the path of protectionism. This meant that a five percent customs duty fee would be imposed on every foreign product that would enter the country. By implementing this policy and by keeping the price of US products lower, the American economy began to grow. As the American domestic industry continued to develop, the protectionist strategy continued; in fact, the customs fees became even higher.
Vào năm 1812, khi Mỹ cần tiền để chi trả cho một cuộc chiến khác với Anh, đất nước này đã tăng mức phí hải quan đã tăng lên mức cao hơn 25%. Vào cuối chiến tranh, mức phí này tiếp tục tăng và đến năm 1820, chúng đạt mức khổng lồ 40%. Đáng ngạc nhiên là chính sách bảo hộ vẫn tiếp tục trong một thời gian dài, kéo dài sang đầu thế kỷ XX. Kết quả là ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, nền kinh tế Mỹ được coi là nền kinh tế ổn định thứ hai trên thế giới, chỉ đứng sau nền kinh tế Nga. Chủ nghĩa bảo hộ dài hạn đã cực kỳ thành công đối với Hoa Kỳ, mặc dù đối lập với các lý tưởng kinh tế hiện đại. Các hàng rào thuế quan này đã bảo vệ nền kinh tế Hoa Kỳ trong khi ngành công nghiệp của nước này có cơ hội phát triển và trở thành ngành mạnh nhất và ổn định nhất trên thế giới. Điều quan trọng cần nhớ là Hoa Kỳ chỉ mở cửa biên giới tự do thương mại sau khi quốc gia này đã đạt được vị thế thống trị về kinh tế.In the year of 1812, when the US needed money to pay for another war with Britain, the customs fees were increased with no less than 25 percent. By the end of the war, the fees continued to climb and by 1820, they reached a whopping 40 percent. Surprisingly, the policy of protectionism continued for a long time, even after the beginning of the twentieth century. As a result, shortly after the break out of the Second World War, the American economy was considered the second most stable economy in the world, second only to the Russian economy. Long-term protectionism was extremely successful for the United States, despite being in opposition with the modern economic ideals. The customs barriers protected the US economy while its industry had the chance to grow and to become the strongest and most stable one in the world. The important thing to remember is that the US opened its borders to free trade only after the nation had achieved a position of dominance.

# 2: Nước Anh đạt được vị thế thống trị kinh tế bằng cách bảo vệ các ngành công nghiệp của mình trong cuộc cách mạng công nghiệp.

# 2: Nước Anh đạt được vị thế thống trị kinh tế bằng cách bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước khi diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp.Kicking Away the Ladder Chapter #2: Britain achieved its economic dominance by protecting its industries during the industrial revolution.
Trong suốt thế kỷ thứ 18 và 19, hạm đội hải quân Anh đã thống trị biển cả. Điều này đã giúp hòn đảo nhỏ trở nên hùng mạnh trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Nhưng làm thế nào mà một hòn đảo nhỏ lạnh giá, ẩm ướt lại có thể đạt được vị thế kinh tế ấn tượng như vậy? Giống như Hoa Kỳ, Anh đã tìm ra câu trả lời khi áp dụng chiến lược bảo hộ.Throughout the eighteenth and nineteenth century, the waters were dominated by Britain’s naval fleet. This helped the small island become powerful in the world of trade. But how did a cold, little, wet island manage to achieve such an impressive economic standing? Like the United States, Britain found an answer in adopting a protectionist strategy.
Để hiểu rõ hơn về chiến lược bảo hộ của Anh, chúng ta cần nhìn lại thế kỷ 15. Vào thời điểm đó, Anh là một quốc gia trên bờ vực của sự bần cùng hóa. Len thô là mặt hàng xuất khẩu chính vì nó là nhu cầu của ngành dệt may phức tạp của vùng đất thấp (Hà Lan và Bỉ ngày nay). Thật an toàn khi nói rằng hồi đó, nước Anh không có nhiều ngành công nghiệp của riêng mình. Henry VII, một vị vua danh tiếng của Anh đã quyết tâm thay đổi tình hình. Ông quyết định xây dựng một ngành công nghiệp dệt may ở Anh và nhận ra rằng cách tốt nhất để đạt được tăng trưởng kinh tế là áp dụng phương pháp bảo hộ. Vì vậy, vào cuối thế kỷ XV, Henry VII đã thực hiện một loạt luật nhằm bảo vệ ngành công nghiệp nội địa của Anh.In order to have a better understanding of Britain’s protectionist strategy, we need to revisit the fifteenth century. At that time, Britain was a nation on the verge of impoverishment. Raw wool was its main export as it was needed by The Low Countries’ sophisticated textile industry (modern-day Holland and Belgium). It’s safe to say that back then, England didn’t have a lot of industry of its own. Henry VII, a reputed English king resolved to change the situation. He decided to build a textile industry in England and realized that the best way to achieve economic growth was by taking a protectionist approach. So, by the end of the fifteenth century, Henry VII had implemented a series of laws meant to protect Britain’s domestic industry.
Bước đầu tiên mà nước Anh thực hiện là săn lùng những công nhân có kinh nghiệm, những người khéo léo từ vùng đất thấp. Sau đó, họ cấm xuất khẩu len thô để đảm bảo rằng Anh có đủ nguyên liệu sản xuất để thành công và đồng thời, làm cạn kiệt nguồn nguyên liệu thô cần thiết của các đối thủ nước ngoài. Sự phát triển của hàng dệt ở Anh đã được thúc đẩy một cách hiệu quả bởi những sáng kiến ​​mà Henry VII đã thực hiện.The first step that England made was to poach experienced workers who were skillful from the Low Countries. Then, they banned the export of raw wool to ensure that England had sufficient manufacturing materials to succeed and at the same time, depleting their foreign competitors of their much needed raw materials. The growth of English textiles was effectively spurred by the initiatives that Henry VII took.

Trên thực tế, chủ nghĩa bảo hộ của Anh đã hoạt động hiệu quả đến nỗi, vào thế kỷ thứ 18, họ đã sử dụng nó một lần nữa để xây dựng các ngành sản xuất của mình. Bằng cách áp dụng phí thương mại, chính phủ Anh khuyến khích nhập khẩu bông, quặng sắt, các nguyên liệu thô khác và xuất khẩu vải, động cơ hơi nước và hàng hóa sản xuất. Các chính sách này dựa trên thực tế là nguyên liệu nhập khẩu có thể được mua với giá thấp và nhu cầu lớn trên toàn cầu đối với các mặt hàng sản xuất. Đây là điều đã làm cho nước Anh trở thành nền kinh tế hàng đầu thế giới như ngày nay.

In fact, Britain’s protectionism worked so well that, in the eighteenth century, they used it again to build their manufacturing industries. By implementing trading fees, Britain’s government encouraged the import of cotton, iron ore, and other raw materials and the export of cloth, steam engines, and manufactured goods. These policies capitalized on the fact that imported materials could be purchased at low prices and there was a great global demand for manufactured items. This is what made Britain the world-leading economy that it is today.

# 3: Các nước giàu luôn bóc lột các nước nghèo, như chúng ta có thể thấy từ lịch sử thống trị của Anh đối với các thuộc địa.

# 3: Các nước giàu luôn bóc lột những nước nghèo, như chúng ta có thể thấy từ sự thống trị lịch sử của Anh đối với các thuộc địa của họ.Kicking Away the Ladder Chapter #3: Rich countries have always exploited poor ones, as we can see from Britain’s historical dominance over their colonies.
Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao một số quốc gia trở nên giàu có và những quốc gia khác không thể thoát khỏi nghèo đói? Theo nhiều chuyên gia, nguyên nhân chính là do các quốc gia hùng mạnh, giàu có lợi dụng vị thế của mình để bần cùng hóa và bóc lột những nước nghèo. Điều này có đúng không?Have you ever wondered why some countries become so rich and others can’t escape poverty? According to many experts, the main reason is that powerful and wealthy nations take advantage of their position to impoverish and exploit the ones who are poor. Is this true?
Nếu chúng ta xem lướt qua các bằng chứng lịch sử, có vẻ như nó là như vậy. Đây là một ví dụ hoàn hảo trong quá khứ minh họa mối quan hệ không công bằng giữa nước giàu và nước nghèo.If we take a quick look at the historical evidence, it sure seems like it is. Here is a perfect example from the past that illustrates an unfair relationship between wealthy and poor.
Trong thế kỷ XVII và XVIII, Vương quốc Anh bắt đầu khẳng định quyền thống trị đối với nhiều thuộc địa ở bờ biển phía Đông của Bắc Mỹ. Mục tiêu chính của chính phủ Anh là sử dụng các nguồn tài nguyên mà các thuộc địa này có để trở nên giàu có hơn. Bắc Mỹ có nhiều nguyên liệu thô như thuốc lá, lông thú và gỗ mà các nhà sản xuất Anh có thể sử dụng. Đồng thời, bằng cách lấy đi tài nguyên, các thuộc địa đã không thể phát triển các ngành công nghiệp để trở nên hùng mạnh. Ví dụ, Anh đã thông qua luật cấm các nhà máy thép và cán được xây dựng ở Mỹ là bất hợp pháp. Kết quả là, các thuộc địa phải chuyên môn hóa các loại công nghiệp ít sinh lời hơn và thô sơ hơn như gang, thay vì thép có giá trị hơn. Những luật này rất có lợi cho Anh, vì các nhà sản xuất thép của họ không có cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Do đó, các thuộc địa Bắc Mỹ đã cố tình giữ cho nền kinh tế Anh phát triển mạnh.During the seventeenth and eighteenth centuries, Britain started to assert dominance over numerous colonies on the Eastern coast of North America. The main goal of the British government was to use the resources that these colonies had in order to become richer. North America had plenty of raw materials such as tobacco, furs, and timber that British manufacturers could use. At the same time, by taking their resources, the colonists themselves were unable to grow their industries and become powerful themselves. For instance, Britain passed laws that made it illegal for steel and rolling mills to be built in America. As a result, the colonies had to specialize in less profitable and more primitive types of industry such as pig iron, instead of the more valuable steel. These laws were highly beneficial for Britain, as their steel manufacturers had no competition in the global market. Thus, the North American colonies were kept poor deliberately in order for the British economy to thrive.
Một chiến lược khác của Anh cũng đáng trách khi bóc lột các thuộc địa là buộc các quốc gia-dân tộc khác phải ký những hiệp ước bất công và nhục nhã để thống trị họ. Ví dụ, sau vụ Thuốc phiện diễn ra từ năm 1839 đến năm 1842, Anh đã buộc Trung Quốc từ bỏ quyền kiểm soát thuế hải quan của họ. Do đó, chính phủ Anh đặt ra các mức thuế giá rẻ, kìm hãm ngành công nghiệp nội địa của Trung Quốc và cho phép Anh tràn ngập hàng hóa của Anh.Another British strategy that was just as reprehensible as exploiting the colonies was to force other nation-states to sign unfair and humiliating treaties in order to dominate them. For instance, after the Opium was that took place between 1839 and 1842, Britain forced China to give up their control of customs duties. Consequently, the British government set the duties at cheap rates, stifling China’s domestic industry and allowing Britain to flood China with British goods.

Bây giờ chúng ta biết rằng nhiều quốc gia phương Tây trở nên giàu có và quyền lực bằng cách bóc lột các quốc gia khác và bằng cách thực hiện các luật bảo hộ. Trong chương tiếp theo, chúng ta sẽ xem cách các quốc gia vốn đã hùng mạnh này dạy các quốc gia đang phát triển phát triển thông qua các phương pháp hoàn toàn khác nhau như thế nào.

We now know that many Western nations became wealthy and powerful by exploiting other nations and by implementing protectionist laws. In the next chapter, we’ll see how these already powerful nations teach developing nations to grow through completely different methods.

# 4: Tư tưởng cho rằng sức mạnh kinh tế của phương Tây đạt được thông qua chế độ dân chủ là một tư tưởng sai lầm.

# 4: Ý tưởng rằng sức mạnh kinh tế phương Tây đạt được thông qua chế độ dân chủ là sai lầm.Kicking Away the Ladder Chapter #4: The idea that western economic power was achieved through democracy is false.
Làm thế nào để một quốc gia trở nên giàu có? Nhiều người sẽ cho rằng rằng các quốc gia trở nên giàu có nhờ dân chủ. Câu trả lời này có vẻ hiển nhiên vì phần lớn các nền kinh tế thành công hiện nay đều là các quốc gia dân chủ. Do đó, dân chủ phải là yếu tố quan trọng nhất, đúng không?How does a country become wealthy? A lot of people will argue that countries become rich through democracy. This answer seems obvious as the great majority of successful economies are now democratic. Hence, democracy must be the most important factor, right?
Nhưng khi nhìn vào lịch sử của các quốc gia này, chúng ta nhận thấy rằng mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và dân chủ là không rõ ràng. Ban đầu, khi hầu hết các nước thuộc NDC (Các nước Phát triển) như Vương quốc Anh và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trở nên hùng mạnh về kinh tế, họ không có một chính phủ dân chủ rõ ràng.But by looking at the history of these nations we notice that the link between economic development and democracy is unclear. For starters, when most NDCs (Now Developed Countries) such as the United Kingdom and the United States of America became economically powerful, they didn’t have an expressly democratic government.
Ví dụ, từ năm 1815 đến năm 1830, khi Pháp chứng kiến ​​nhiều tăng trưởng kinh tế, những người duy nhất được phép bỏ phiếu là nam giới trên 30 tuổi, những người đã trả tối thiểu 300 franc tiền thuế. Đó chỉ là 0.25% dân số của Pháp. Năm 1848, quyền bầu cử mới được mở rộng cho tất cả các công dân nam. Chúng ta không được quên rằng tình trạng thiếu quyền bầu cử của phụ nữ là cực kỳ phổ biến ở hầu hết các nước phát triển cho đến rất gần đây. Ở Úc, phụ nữ được trao quyền bầu cử vào năm 1903, năm 1928 ở Vương quốc Anh và năm 1971 ở Thụy Sĩ.For instance, between 1815 and 1830, when France saw a lot of economic growth, the only people who were allowed to vote were males over 30, who paid a minimum of 300 francs in taxes. That is only 0,25 percent of France’s population. In 1848, voting rights were expanded to all male citizens. We mustn’t forget that the lack of women’s suffrage was extremely common in most developed countries until very recently. In Australia, women were given the right to vote in 1903, in 1928 in the United Kingdom, and in 1971 in Switzerland.
Tuy nhiên, ngay cả khi đa số công dân có thể bỏ phiếu, quy trình dân chủ trong các nước thuộc NDC hầu như không minh bạch hoặc công khai. Lấy ví dụ như bỏ phiếu kín. Giữ bí mật phiếu bầu của mọi người có vẻ công bằng và hiển nhiên vào thời điểm hiện nay, nhưng trước đây việc bỏ phiếu không hề bí mật.Yet, even if the majority of citizens could vote, the democratic process in the NDCs was hardly transparent or open. Take secret balloting for example. Keeping people’s votes a secret seems fair and we now take this for granted, but voting wasn’t secret at all in the past.
Ví dụ, vào năm 1919, ở Phổ, các cử tri có nguy cơ bị đe dọa và hối lộ do bỏ phiếu kín. Ở Pháp, việc bỏ phiếu bắt đầu được bảo vệ bằng phong bì vào năm 1913, trước đó, các cuộc bỏ phiếu diễn ra khá công khai, do đó, rất rủi ro.For instance, in 1919, in Prussia, voters were at risk of intimidation and bribery due to a lack of secret ballot. In France, voting started to be protected by an envelope in 1913, before that, votes were quite public, therefore, risky.

Vậy chúng ta có thể học được gì từ những điều này? Rằng các quốc gia đang đấu tranh để phát triển nền kinh tế của họ nên ngừng thực thi dân chủ để đạt được các mục tiêu về kinh tế? Tất nhiên là không, nhưng nhận thức được rằng các quốc gia hùng mạnh đã sử dụng các phương pháp đáng ngờ để đạt được tăng trưởng kinh tế là vô cùng quan trọng. Bằng cách tìm hiểu về những khía cạnh này, chúng ta có thể đánh giá sự tiến bộ của một quốc gia một cách công bằng hơn. Các chương sau đây đưa ra những ví dụ có giá trị về cách các quốc gia dân chủ đã sử dụng các phương pháp phi dân chủ để xây dựng nên sự giàu có và quyền lực như hiện nay.

So what can we learn from this? That nations who are struggling to grow their economies should stop being democratic in order to achieve their goals? No, of course not, but being aware that powerful nations used questionable methods to achieve economic growth is extremely important. By understanding these aspects we can judge a nation’s progress more fairily. The following chapters offer valuable examples of how democratic nations used undemocratic methods to build wealth and power.

#5: Xâm phạm quyền sở hữu có một vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế phương Tây.

Kicking Away the Ladder Chương # 5: Vi phạm quyền sở hữu có một vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế phương Tây.Kicking Away the Ladder Chapter #5: Property rights violation has an important place in the history of western economic development.
Bạn sẽ cảm thấy thế nào nếu chính phủ đột ngột chiếm hữu doanh nghiệp mà bạn đã dành cả cuộc đời để gây dựng? Nếu điều gì đó tương tự xảy ra với chúng ta, có lẽ chúng ta sẽ mất hoàn toàn nhiệt huyết kinh doanh của mình và có thể sẽ không bao giờ cố gắng xây dựng một doanh nghiệp khác khi biết rằng có thể đánh mất nó lần nữa.How would you feel if the government suddenly claimed a business that you’ve spent your whole life building up? If something like that happens to us, we’d probably lose our entrepreneurial spirit completely and we would never try to build another business knowing that we might lose it again.
Để tránh tình trạng này trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay, các chính phủ phương Tây đang đấu tranh mạnh mẽ để đảm bảo quyền sở hữu. Những quyền sở hữu này có thể bảo vệ tài sản của cá nhân một cách hợp pháp khỏi nguy cơ bị nhà nước chiếm giữ. Quyền sở hữu tài sản là vô cùng quan trọng vì chúng thúc đẩy tinh thần kinh doanh của một quốc gia. Nếu những doanh nhân biết chắc chawbs rằng những gì họ thu được từ doanh nghiệp của mình sẽ không bao giờ bị đánh cắp, điều này sẽ khuyến khích các doanh nhân làm việc chăm chỉ hơn.In order to avoid this situation in our current socio-economic climate, Western governments are fighting for strong property rights. These property rights can protect someone’s property legally from being seized by the state. Property rights are extremely important as they promote a nation’s entrepreneurial spirit. Knowing that what they gain from their enterprises will never be stolen from them incentivizes entrepreneurs to work hard.
Tuy nhiên, nếu chúng ta xem xét kỹ hơn các cách thức mà các nước phát triển gây dựng nền kinh tế của họ, chúng ta sẽ nhận thấy rằng quyền sở hữu mạnh mẽ không phải là điều cần thiết cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia.However, if we take a closer look at the ways in which NDCs developed their economies, we notice that strong property rights are not essential for a country’s economic development.
Ví dụ, hãy lấy nước Anh vào thế kỷ thứ mười tám. Vào lúc đó, nước Anh có một lợi thế lớn do sự mở rộng nhanh chóng của ngành dệt may. Điều thú vị là sự phát triển này được thực hiện bởi một loạt các trường hợp vi phạm quyền sở hữu do chính phủ Anh thực hiện. Các nhà lãnh đạo của Anh đã chiếm đoạt đất đai chung, biến nó thành đất công cộng, và sau đó trao nó cho các chủ đất tư nhân, những người đã lấp đầy đất đai với những con cừu. Hành động “ăn cắp” này của chính phủ là nguyên nhân thúc đẩy sự bùng nổ ngành dệt may của Anh vì nó dẫn đến sự gia tăng đáng kể nguồn cung len của quốc gia này.For instance, take Britain in the eighteenth century. Back then, Britan had a great advantage due to the quick expansion of their textile industry. Interestingly enough, this development was made possible by a series of property rights violations done by the British government. Britain’s leaders seized the common land, transformed it into the public domain, and then gave it to private landowners, who filled the land with sheep. This act of governmental “theft” is what fuelled Britain’s textile boom as it led to a huge increase in the nation’s supply of wool.
Và sự vi phạm quyền sở hữu vật chất này không phải là điều phi dân chủ duy nhất có thể thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của mọi người và ăn cắp ý tưởng của người khác có thể gây ra hậu quả tương tự. Khi các nước đang phát triển chứng kiến ​​sự tăng trưởng kinh tế, việc đánh cắp các phát minh và ý tưởng là rất phổ biến.And this violation of physical property rights is not the only nondemocratic thing that can fuel a nation’s economic development. The violation of people’s intellectual property rights and stealing their ideas can have a similar effect. When the Now Developed Countries saw economic growth, the theft of inventions and ideas was very common.

Ví dụ, trước năm 1852, nếu bạn là công dân Anh, bạn có thể dễ dàng đánh cắp một phát minh từ một công dân Đức, sản xuất và bán nó trên lãnh thổ Anh một cách hợp pháp. Nói cách khác, luật pháp Anh cho phép công dân cấp bằng sáng chế cho bất kỳ ý tưởng nào của nước ngoài ngay cả khi những ý tưởng đó đã thuộc sở hữu của các nhà phát minh từ các quốc gia khác. Vì vậy, quyền tài sản không quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế như chúng ta nghĩ, nó hoàn toàn ngược lại.

For instance, before 1852 if you were a British citizen you could easily steal an invention from a German citizen, manufacture it, and sell it on British territory legally. In other words, British laws allowed citizens to patent any foreign ideas even when those ideas were owned by inventors from other countries. So, property rights are not as important for economic growth as we thought, it’s quite the opposite.

# 6: Trước khi các quy định được thiết lập trong NDC, lạm dụng công nhân là cực kỳ phổ biến.

# 6: Trước khi các quy định được thiết lập trong NDC, lạm dụng công nhân là cực kỳ phổ biến.Kicking Away the Ladder Chapter #6: Before regulations were established in the NDCs, worker abuse was extremely common.
Việc sử dụng lao động trẻ em và cưỡng bức làm việc 15 giờ trong ngày là hai ví dụ về các hoạt động có vẻ tàn nhẫn và vô nhân đạo hiện nay. Do đó, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện và chính phủ đang làm việc liên tục để giải phóng thế giới của những phương thức làm việc vô nhân đạo này. Nhưng mặc dù hiện nay việc bóc lột tầng lớp lao động là bất hợp pháp, nhưng trước đây không phải vậy. Trên thực tế, rất nhiều nước phát triển đã sử dụng các hành vi vô nhân đạo để phát triển nền kinh tế. Ở Anh, một trong những cường quốc công nghiệp toàn cầu đầu tiên, vào cuối những năm 1700 và đầu những năm 1800, chính phủ rất phụ thuộc vào việc làm của trẻ em trong các mỏ than, nhà máy và trong ngành dệt may. Những đứa trẻ được chính phủ Anh sử dụng để thúc đẩy nhu cầu thường xuyên về lao động giá rẻ sẽ phải làm việc rất nhiều giờ trong điều kiện kinh khủng. Ví dụ, vào khoảng những năm 1820, việc tìm thấy trẻ em làm việc từ 12 đến 16 giờ hàng ngày trong các hầm mỏ và nhà máy là vô cùng phổ biến. Có thể tìm thấy một ví dụ khác về việc sử dụng lao động trẻ em để tăng trưởng kinh tế bằng cách nhìn vào lịch sử ban đầu của Hoa Kỳ. Vào những năm 1820, ở Mỹ, một nửa lao động trong ngành công nghiệp bông là trẻ em dưới 16 tuổi. Điều đáng nói là vào cuối thế kỷ XIX, có hơn 1,5 triệu người làm việc trong ngành công nghiệp bông, có nghĩa là ít nhất 750.000 công nhân là trẻ em. Thậm chí trong suốt thế kỷ XX, ở nhiều xã hội phương Tây, lao động trẻ em cực kỳ phổ biến. Đan Mạch đã thiết lập các luật nhân đạo hơn cho tầng lớp lao động vào năm 1925, vì vậy chúng ta có thể tưởng tượng rằng cho đến thời điểm đó, lao động trẻ em vẫn đang thúc đẩy ngành công nghiệp của Đan Mạch. Nhưng, tại sao những chi tiết lịch sử này lại quan trọng đối với tình hình kinh tế xã hội và chính trị hiện tại của chúng ta? Thật đơn giản. Nếu chúng ta muốn giúp các quốc gia đang phát triển đạt được mức giàu có tương đương với các nước phát triển, thì chúng ta phải hiểu rằng các lựa chọn của họ bị hạn chế. So với cách phương Tây đã xây dựng các ngành công nghiệp và đạt được sự giàu có về kinh tế, các quốc gia đang phát triển ngày nay cần phải nỗ lực thêm để thoát khỏi bẫy đói nghèo. Họ không thể khai thác, ăn cắp, gian lận và nói dối để tích lũy tài sản theo cách không được kiểm soát như phương Tây đã làm trong thế kỷ mười tám và mười chín.Child labor and forced 15-hour work-days are two examples of practices that seem cruel and inhumane nowadays. Consequently, NGOs, charities, and, governments are doing constant work in order to free the world of these inhumane working practices. But although exploiting the working class is illegal now, that wasn’t the case in the past. In fact, a lot of NDCs used inhumane practices in order to grow their economy. In Britain, one of the first global industrial powers, during the late 1700s and early 1800s, the government was highly reliant on the employment of children in coal mines, factories, and in the textile industry. Children who were used by the British government to fuel their constant need for cheap labor would work very long hours in horrible conditions. Around the 1820s, for instance, it was extremely common to find children who worked 12 to 16 hours daily in mines and factories. Another example of using child labor for economic growth can be found by looking at the early history of the United States. In the 1820s, in America, half the labor in the cotton industry was represented by children younger than 16. It is worth mentioning that by the end of the nineteenth century, there were over 1.5 million people working in the cotton industry, which means that at least 750,000 of workers were children. Even throughout the twentieth century, in many Western societies, child labor was extremely prevalent. Denmark established more humane laws for the working class in 1925, so we can imagine that up until then, child labor was still fuelling Denmark’s industry. But, why would these historic details be important to our current socio-economic and political climate? The answer is simple. If we want to help developing nations reach the same levels of wealth as the NDCs, then we must understand that their options are limited. Compared to how the West build their industries and economic wealth, developing nations of today need to make additional efforts to escape the poverty trap. They cannot exploit, steal, cheat, and lie in order to accumulate wealth in such an unregulated fashion as the West did during the eighteenth and nineteenth centuries.

# 7: Các quốc gia đang phát triển hiện nay phải nhanh hơn các quốc gia phát triển trước đây.

# 7: Các quốc gia đang phát triển hiện nay trải qua một quá trình phải nhanh hơn các quốc gia phát triển hiện nay đã làm ở các giai đoạn tương tự.Kicking Away the Ladder Chapter #7: Countries that are developing now go through a must faster process than the now-developed countries did at similar stages.
Những gì chúng ta nên nhận ra bây giờ là các quốc gia đang phát triển có một cách tiếp cận hoàn toàn khác với các nước đang phát triển trước đây. Vì vậy, thay vì phàn nàn về những khó khăn mà các quốc gia đang phát triển phải đối mặt, chúng ta nên xem xét những thách thức như những ví dụ về sự thay đổi tích cực. Trên thực tế, tuyệt đại đa số các quốc gia đang phát triển hiện nay đều tiến bộ hơn nhiều so với các quốc gia phương Tây từng có trong cùng giai đoạn phát triển. Hãy xem các thể chế cần thiết để xây dựng một xã hội thịnh vượng và công bằng: thể chế dân chủ, phúc lợi và chế độ quan liêu. Ở các quốc gia đang phát triển hiện nay, tất cả các thể chế này đang hoạt động tốt hơn nhiều so với các nước phát triển trước đây. Ví dụ, ở Anh vào thế kỷ 19, thu nhập bình quân đầu người cao gấp đôi so với Ấn Độ ngày nay (được điều chỉnh theo lạm phát), nhưng các thể chế của Ấn Độ phát triển hơn so với Anh vào thời điểm đó: Ấn Độ có các quy định lao động mạnh mẽ, ngân hàng trung ương và quyền phổ thông đầu phiếu, không có ngân hàng nào tồn tại vào những năm 1800 ở Anh. Nhưng tại sao các nước phát triển lại có sự hoàn thiện thể chế kém như vậy? Sự phát triển thể chế kém một phần là do những người được hưởng lợi từ một hệ thống không công bằng và những người có quyền kiểm soát đối với chính phủ. Đó chính xác là lý do tại sao các quốc gia này đã mất rất nhiều thời gian để cấm các hoạt động kinh khủng như lao động trẻ em. Những người đàn ông giàu có sở hữu các nhà máy và hầm mỏ thu lợi từ việc sử dụng công nhân trẻ em. Nếu họ cấm những người lao động này, họ sẽ mất đi một nguồn cung cấp lao động ngoan ngoãn và rẻ tiền quý giá. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển có quyền phổ thông đầu phiếu, nhóm người này có ít quyền kiểm soát hơn, do đó thay đổi diễn ra nhanh hơn và các quốc gia có thể thấy sự phát triển kinh tế lớn hơn. Thực tế là các quốc gia đang phát triển hiện đại đang phát triển trong giới hạn của nền dân chủ và các quy định hiện đại cho thấy rằng họ tiến bộ hơn nhiều so với các quốc gia đã phát triển đã lợi dụng các thực hành bất công. Rất nhiều người sống ở các nước đang phát triển có những quyền mà những người sống ở Anh hoặc Mỹ thế kỷ mười tám chỉ có thể mơ ước.What we should now realize is that nations who are going through a development process, have a completely different approach than NDCs did. So, instead of complaining about the difficulties faced by developing nations, we should view their challenges as examples of positive change. In fact, the great majority of nations who are currently growing are much more advanced than their Western counterparts ever were during the same stages of development. Take a look at the institutions that are essential for building a prosperous and fair society: the institutions of democracy, welfare, and bureaucracy. In currently developing nations, all of these institutions are functioning much better than they did in the historical NDCs. For instance, in nineteenth-century Britan, the income per capita was twice that of modern-day India (adjusted in accordance with inflation), but the Indian institutions are way more developed than Britain’s at that time: India has strong labor regulations, a central bank, and universal suffrage, none of which existed in 1800s Britain. But why did the NDCs have such poor institutional development? Poor institutional development was owed partly to those who benefitted from an unfair system and who had control over the government. That is exactly why it took so long for these nations to ban horrible practices such as child labor. Rich men who owned factories and mines dominated The House of Lords profited from having children workers. If they were to ban these workers, they would have lost a precious supply of docile and cheap labor. Yet in developing countries who have universal suffrage, this type of people have less control, therefore change happens faster and the nations can see greater economic development. The fact that modern developing nations are growing within the bounds of democracy and modern regulations indicates that they are far more advanced than the already-developed nations that took advantage of unjust practices. A lot of people living in developing countries have rights that people living in eighteenth-century Britan or America could only dream of.

Thông điệp chính trong Kicking Away the Ladder của Ha-Joon Chang là gì? Khi đưa ra lời khuyên cho các quốc gia đang phát triển, những nước phát triển thường quên nói về những thực tế bất công đã đưa họ đến vị trí hiện tại. Tuy nhiên, một phần, bởi vì các quốc gia đang phát triển không thể khai thác công dân của họ và các quốc gia khác để phát triển, họ tiến bộ hơn nhiều so với các nước phát triển trong cùng giai đoạn.

Nội dung đọc tiếp theo: 23 điều họ không nói với bạn về chủ nghĩa tư bản của Ha-Joon Chang Từ 23 điều họ không nói với bạn về chủ nghĩa tư bản của Ha-Joon Chang, chúng ta tìm hiểu về những huyền thoại quan trọng nhất đằng sau cách tiếp cận kinh tế hiện tại của chúng ta. Xuyên suốt cuốn sách, Chang giải thích về việc vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến chủ nghĩa tư bản thị trường tự do hiện nay, bất chấp điều mà hầu hết các nhà kinh tế học tin tưởng. Đồng thời thảo luận về những vấn đề này, tác giả cũng đưa ra những giải pháp khả thi có thể áp dụng để xây dựng một thế giới công bằng và tốt đẹp hơn.

What is the key message of Ha-Joon Chang’s Kicking Away the Ladder? When offering advice to developing nations, more often than not, NDCs forget to tell them about the unjust practices that brought them to their current positions. Yet, in part, because nations who are currently developing cannot exploit their citizens and other countries in order to grow, they are much more advanced than NDCs ever were during the same stages.

What to read next: 23 Things They Don’t Tell You About Capitalism by Ha-Joon Chang From Ha-Joon Chang’s 23 Things They Don’t Tell You About Capitalism we learn about the most important myths behind our current economic approach. Throughout the book, Chang explains how there are still many problems regarding the current free-market capitalism, despite what most economists believe. As well as discussing these problems, the author also offers possible solutions that could be applied in order to build a world that is fairer and better.
kicking_away_the_ladder.txt · Last modified: 2021/09/11 00:27 by editor